loading...

Hội thảo

Tinh hoàn lạc chỗ

04:26:01 - 05/02/2013 - admin

Bình thường tinh hoàn sẽ di chuyển từ trong ổ bụng xuống bìu trong thời kỳ thai nhi, đến tháng thứ 8-9 tinh hoàn sẽ nằm ở bìu. Khi trẻ đẻ ra mà tinh hoàn không nằm ở bìu thì được gọi là bệnh ẩn tinh hoàn. Khi đó tinh hoàn có thể nằm ở các vị trí như trong ổ bụng, trong lỗ bẹn, ống bẹn. Vì nhiệt độ ở các vị trí này cao hơn nhiệt độ ở bìu nên tinh hoàn sẽ kém phát triển, xơ hóa, trường hợp tinh hoàn nằm trong ổ bụng để muộn có thể bị ung thư hóa.

tinh-hoan-lac-cho1

1. Đại cương

1.1. Định nghĩa: Tinh hoàn ẩn là những tinh hoàn dừng lại trên đường di chuyển của tinh hoàn từ bụng xuống bìu trong thời kỳ bào thai. Các thể lâm sàng có thể gặp: Tinh hoàn nằm trong ổ bụng, ở lỗ bẹn sâu, trong ống bẹn và ngoài lỗ bẹn nông.

1.2. Nguy cơ của tinh hoàn ẩn: Nếu không điều trị có thể gặp nguy cơ: Ung thư hoá, khả năng vô sinh, thoát vị bẹn, xoắn tinh hoàn hay chấn thương tinh hoàn hoặc tổn thương về tâm sinh lý do không có hay chỉ có một tinh hoàn dưới bìu.

 2. Nguyên nhân

2.1. Rối loạn trục hạ đồi  – tuyến yên – tuyến sinh dục: suy tuyến yên, làm thiếu Gonadotropin gây tinh hoàn ẩn và chứng dương vật nhỏ lại.

2.2. Sai lệch tổng hợp Testosteron: do thiếu men 17 a hydroxylase, 5 a reductase…

2.3. Hội chứng giảm khả năng cảm nhận của các thụ thể Androgen.

2.4. Estrogen cũng có tác dụng làm hỏng sự đi xuống của tinh hoàn: mẹ mang thai dung Diethylstillbesteron, hay kháng Androgen (Flutamide).

2.5. Phát triển bất thường của dây chằng tinh hoàn – bìu.

2.6. Các yếu tố cơ học gây cản trở sự di chuyển của tinh hoàn như: cuống mạch của tinh hoàn ngắn, xơ hoá vùng ống bẹn…

3.1. Lâm sàng:

Thăm khám vùng bẹn bìu

Bìu kém phát triển, tinh hoàn ẩn càng cao thì bìu càng kém phát triển. Tinh hoàn ẩn thể cao khi khám không sờ thấy tinh hoàn.

3.2. Cận lâm sàng:

3.2.1. Siêu âm bụng, chụp cắt lớp vi tính ổ bụng hay nội soi ổ bụng là các phương tiện thăm dò từ thấp đến cao nhằm xác định chính xác vị trí của tinh hoàn ẩn.

3.2.2. Xét nghiệm nhiễm sắc thể nên được tiến hành một cách hệ thống để phát hiện các trường hợp giới tính không xác định.

3.2.3. Nghiệm pháp HCG là một nghiệm pháp được sử dụng để xác định xem tinh hoàn có hay không có trong trường hợp cả hai tinh hoàn đều không sờ thấy.

3.2.4. Các xét nghiệm nội tiết tố: LH, FSH, Prolactine, Estradiol và Testosterone.

3.2.5. Các xét nghiệm chỉ điểm khối u: a FP, b – HCG nên làm để phát hiện các trường hợp ác tính.

4. Điều trị

4.1. Điều trị nội tiết

Gonadotrophine chorionique endo (hCG), liều dùng tùy theo cân nặng, thuốc có tác dụng làm phát triển tinh hoàn, các mạch máu, ống dẫn tinh giúp tinh hoàn có thể di chuyển xuống bìu. Kết quả có khoảng 20% bệnh nhân tinh hoàn xuống bìu không cần phẫu thuật.
Tuy nhiên thuốc thường chỉ có tác dụng ở trẻ dưới 12 tháng, còn các trường hợp khác thường tuy không làm tinh hoàn xuống bìu được nhưng cũng làm tinh hoàn to lên, mạch máu, ống dẫn tinh dài ra, giúp phẫu thuật được thuận lợi.

4.2. Điều trị phẫu thuật

Tuổi mổ tốt nhất là từ 16 đến 18 tháng, tốt nhất là trẻ được điều trị nội tiết trước mổ từ 3 đến 6 tháng.
Tinh hoàn sẽ được đưa từ trên xuống bìu và được cố định vào bìu.
Sau mổ trẻ nằm viện khoảng 3 ngày

Với những trường hợp lớn tuổi mặc dù tinh hoàn không còn chức năng sinh sản nhưng vẫn cần phải phẫu thuật để tránh các biến chúng ung thư, xoắn tinh hoàn…

Ý kiến bạn đọc

Bình luận qua Disqus Facebook