loading...

Hội thảo

Hội chứng trào ngược dạ dày thực quản

07:42:08 - 29/01/2013 - admin

Bệnh trào ngược dạ dày – thực quản (TNDD-TQ) là tình trạng trào ngược từng lúc hay thường xuyên của dịch dạ dày lên thực quản, do tính chất kích thích của các chất dịch trong dạ dày như: HCl, pepsine, dịch mật… đối với niêm mạc thực quản, gây ra các triệu chứng và biến chứng tại thực quản. Hiểu rõ bệnh lý và cách điều trị cũng như dự phòng giúp chúng ta phòng tránh tốt hơn.

Bệnh xảy ra như thế nào?

Ở trạng thái sinh lý bình thường, thỉnh thoảng cũng có hiện tượng trào ngược dịch dạ dày lên thực quản nhưng rất thoáng qua và không gây hậu quả gì. Đo cơ chế bảo vệ chống trào ngược gồm nhiều yếu tố. Hoạt động của cơ thắt dưới thực quản là yếu tố quyết định trong hiện tượng TNDD-TQ. Nó có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ niêm mạc thực quản đối với HCl của dịch dạ dày. Bình thường, co thắt dưới thực quản chỉ giãn mở ra khi nuốt, sau đó sẽ co thắt và đóng kín ngăn không cho dịch dạ dày trào ngược lên thực quản. Tuy nhiên, vẫn có lúc trương lực cơ bị giảm và dịch dạ dày trào ngược lên thực quản. Khi có sự trào ngược của dịch dạ dày lên thực quản, dịch nhầy thực quản với bi-carbonat và nước bọt do có tính kiềm sẽ trung hòa HCL của dịch vị làm giảm hoặc mất sự kích thích của dịch vị lên niêm mạc thực quản. Đồng thời, nhu động của thực quản sẽ đẩy dịch trào ngược trở xuống lại dạ dày.

thụ cảm, ức chế anpha, kháng tiết choline, theophylline; các chất caffein, rượu, thuốc lá, chocolate, hay bữa ăn nhiều mỡ. bKhi sự co thắt dưới thực quản hoạt động không tốt sẽ dẫn đến bệnh TNDD-TQ. Các yếu tố ảnh hưởng đến rối loạn hoạt động của co thắt dưới thực quản và cơ chế bảo vệ chống trào ngược có thể do: sự giãn co thắt dưới thực quản xảy ra thường xuyên hơn và kéo dài hơn, thoát vị hoành, rối loạn nhu động thực quản, giảm tiết nước bọt và các tác nhân khác làm giảm áp lực co thắt dưới thực quản như các thuốc secretin, cholecystokinine, glucagon; các thuốc kích thích

hoi-chung-trao-nguoc-da-day-thuc-quan

Các dấu hiệu xác định bệnh

Các triệu chứng mà người bệnh than phiền, gây khó chịu gây ra bệnh cảnh bao gồm: ợ nóng, trớ và nuốt khó.

Ợ nóng: cảm giác gây ra do trào ngược dịch dạ dày lên thực quản. Niêm mạc thực quản bị kích thích bởi HCL hoặc dịch mật trong dịch dạ dày làm người bệnh có cảm giác nóng rát lan từ thượng vị lên dọc sau xương ức, có khi lan đến vùng hạ họng hoặc lên tận mang tai. Trường hợp điển hình, chứng ợ nóng xuất hiện sau bữa ăn và theo tư thế cúi gập người về trước, hoặc những cơn ho ban đêm do tư thế nằm. Các triệu chứng trên tăng khi uống rượu, uống nước chua.

Trớ: sự ựa ngược dịch đọng trong thực quản, ngay trên phần bị nghẽn tắc. Trớ thường xảy ra do thay đổi tư thế hay một sự gắng sức. Dịch trớ thường không mùi vị, không chua và có thể lẫn thức ăn chưa tiêu hóa.

Nuốt khó: rất đa dạng, có thể do nuốt khó với chất lỏng là chính, liên quan đến co thắt dưới thực quản, hoặc có thể nuốt khó thật sự với chất đặc có hay không kèm theo nuốt đau. Triệu chứng nuốt khó cần phân biệt một số bệnh lý tại thực quản như: ung thư thực quản, cần phải chụp X-quang, chụp CT-Scan vùng ngực và nội soi thực quản để xác định. Ngoài ra, một số các dấu hiệu khác cũng có giá trị xác định như cảm giác vướng vùng họng, hay sặc khi nuốt, ho khan kéo dài không có nguyên nhân.

Diễn tiến và biến chứng

Diễn tiến bệnh lý thường không có sự song hành giữa triệu chứng lâm sàng và tổn thương thực thể của bệnh. Thường xảy ra nhất là viêm thực quản do trào ngược với các hệ quả như loét, teo hẹp. Xơ hóa do viêm có thể làm co rút thực quản. Niêm mạc thực quản bị ngắn do niêm mạc thực quản bị thay thế dần bởi niêm mạc dạ dày với nguy cơ hóa ung thư đoạn niêm mạc bị chuyển sản. Loét thực quản có thể gây xuất huyết tiêu hóa. Hiếm gặp hơn là các biến chứng viêm thanh quản, viêm xoang, viêm mũi họng, viêm phổi do hít do trào ngược xảy ra vào ban đêm.

Cách điều trị bệnh

Bao gồm điều trị nội khoa: chế độ dùng thuốc, sử dụng các thuốc chống tiết acid nhóm ức chế bơm proton như: omeprazole, lansoprazole, rabeprazole làm giảm các triệu chứng và làm lành viêm thực quản trong đa số trường hợp nên là thuốc được chọn đầu tiên trong điều trị. Chế độ ăn giảm các chất kích thích như: rượu, cà phê, thuốc lá, chocolate. Không nên thêm nhiều các loại gia vị gây kích thích mạnh như: ớt, tiêu. Tránh ăn quá no hoặc uống nhiều nước có ga. Tránh làm tăng áp lực xoang bụng như nịt lưng, nịt vú quá chặt.

Phẫu thuật thường được chỉ định trong những trường hợp không đáp ứng hoặc đáp ứng kém với điều trị nội khoa. Đó là các phương pháp tạo nếp gấp đáy vị (phẫu thuật Nissen, phẫu thuật Toupet), hoặc các phương pháp can thiệp qua nội soi khâu tạo hình cơ vòng dưới thực quản qua nội soi, hoặc tiêm chất sinh học làm tăng khối cơ. Có những trường hợp bị biến chứng hẹp thực quản có thể được nong thực quản qua nội soi.

Dự phòng bệnh

Đây là bệnh lý liên quan nhiều đến chế độ ăn uống và thói quen của mỗi cá nhân, bệnh không có tính di truyền. Vì vậy, nhằm tránh khỏi sự gây bệnh, chúng ta cần có chế độ ăn uống điều độ. Bữa ăn cần thiết đủ dinh dưỡng với 6 thành phần cơ bản: đạm, tinh bột, chất béo, chất xơ, muối khoáng và vitamin; được chia đều trong mỗi khẩu ăn 3 bữa trong ngày. Các thói quen xấu cần bỏ, như: thuốc lá, bia rượu. Hạn chế cà phê, chocolate. Không ăn quá no, quá nhiều lúc tối, lúc đêm. Những thức ăn có gia vị mạnh không nên ăn. Tránh thức khuya, ăn uống vô bổ. Có chế độ tập luyện thể dục thể thao thường xuyên phù hợp sức khỏe với mỗi cá nhân. Thực hiện nếp sống lành mạnh, tinh thần thoải mái.

Ý kiến bạn đọc

Bình luận qua Disqus Facebook